Kỹ thuật trồng ớt cay

Thảo luận trong 'Rao vặt toàn quốc' bắt đầu bởi traubavang789, 21/10/22.

  1. traubavang789

    traubavang789 Expired VIP

    Bài viết:
    441
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    - Kỹ thuật trồng ớt thích hợp có đất thoát nước tốt, tơi xốp và giàu mùn như: Đất cát pha, đất giết mổ pha sét, đất phù sa ven sông và đất canh tác lúa. Đất có hàm lượng dinh dưỡng tương đối - giàu, pH đất = 5,5-6,5. Đất được cày bừa sâu 20-30cm, phơi ải.

    - Luống: Lên luống cao 15-20cm, mặt luống rộng 40-50cm (trồng một hàng), mặt luống rộng 1-1,2cm (trồng hàng đôi).

    [​IMG]

    Mùa vụ:
    - Cây ớt có thể trồng quanh quéo năm ở các nơi có điều kiện thuận lợi;

    - Cây ớt phù hợp nhiệt độ cao từ 25-300C, vì thế nên xếp đặt trồng vụ xuân hè sẽ cho năng xuất cao.

    Chọn giống:
    Ớt cay có số đông giống như: Ớt xiêm, ớt chỉ thiên, ớt chùm trái đen, ớt chùm trái vàng, ớt sừng trâu (trái lớn, cay trung bình); ớt hiểm (cay nhiều) …

    Gieo trồng:
    Hạt giống ngâm 3 sôi 2 lạnh trong 12 giờ, vớt ra đãi sạch và ủ 2-3 ngày hạt mọc mầm gieo vào luống ươm cây giống hoặc gieo trong các vĩ xốp, Chăm sóc, tưới nước giữ ẩm và phòng trừ sâu bệnh cho cây con, sau khi cây con đạt 20-25 ngày tuổi thì nhổ trồng ra vườn sản xuất. Trước khi nhổ cần xiết nước 5-6 ngày, tưới đẫm 4-6 giờ, sau đó nhổ trồng ngay khi sáng hoặc khi chiều mát.

    Mật độ trồng: Hàng đơn trên mỗi luống trồng cây cách cây 50-60 cm, còn trên luống trồng hàng đôi trồng cây phương pháp cây 50-55 cm, hàng bí quyết hàng 55-65 cm.

    >>> Xem thêm tại: https://dinhphong.com.vn/

    [​IMG]

    Chăm sóc và bón phân: Cây ớt cho thu quả liên tiếp kéo dài nên cần phải bón lượng phân to và chia khiến đa dạng lần bón trong năm.

    Phân bón trung bình cho 1ha (tùy theo đất và mùa vụ mà tăng giảm lượng phân cho phù hợp):

    - Bón lót khi khiến đất: 1000kg vôi, 8-10 tấn phân chuồng, 500kg super lân, 30kg Kali, 20kg Calcium nitrat, 100-150kg phân NPK(16-16-8).

    - Bón thúc chia khiến 4 lần bón có lượng phân như sau (1ha):

    Lần 1: 20 - 25 ngày sau khi trồng: 40kg Urê + 30kg Kali + 100kg NPK (16-16-8) + 20kg Calcium nitrat.

    Lần 2: khi ớt đã đậu trái đều: 60kg Urê + 50kg Kali + 100 - 120kg NPK (16-16-8) + 20kg Calcium nitrat.

    Lần 3: khi khởi đầu thu trái: 60kg Urê + 50kg Kali, 100 - 150kg NPK (16-16-8) + 30kg Calcium nitrat.

    Lần 4: khi thu hoạch rộ: 40kg Urê + 40kg Kali, 100-150kg NPK (16-16-8) + 30kg Calcium nitrat.

    Tưới nước: Mùa mưa cần đảm bảo thoát nước tốt, mùa nắng phải tưới nước đông đảo, giả dụ có rơm rạ hoặc cỏ khô tủ gốc giữ ẩm cho cây.

    Tỉa nhánh: Tỉa bỏ các cành, lá dưới điểm phân cành để cây ớt phân tán rộng và gốc được thông thoáng, tỉa cành lá sâu bệnh, cành tăm, nên tỉa cành khi nắng ráo, tỉa bằng kéo cắt cành giảm thiểu cành gãy xước khiến cây dễ bị bệnh.

    [​IMG]

    Làm giàn: Đối có giống có tán lá rộng, cao thì nên làm giàn để đỡ cây khỏi bị đổ ngã, gãy cành, kéo dài thời kì thu hoạch, hạn chế trái bị sâu bệnh do đỗ ngã.

    Phòng trừ sâu bệnh: Cây ớt có nhiều đối tượng sâu bệnh, thành ra nên vận dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp để cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

    - Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng sạch, hạn chế cỏ dại và các cây ký chủ của sâu bệnh hại ớt; Luân canh, không trồng cây họ cà trong vòng hai - 3 năm; Chọn giống kháng bệnh; trồng mật độ vừa phải; nâng cao cường bón phân chuồng hoai mục, bón phân cân đối NPK; Tỉa cành lá thông thoáng, thu nhặt cành lá bị sâu bệnh để tiêu hủy; hạn chế trồng ớt trong mùa mưa ở ngoài trời.

    - Biện pháp sinh học: bảo kê thiên địch, bắt sâu bằng tay, tiêu dùng bẫy bã xua đuổi hoặc thu hút côn trùng.

    - Biện pháp hóa học: khi sâu bệnh hại nặng thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, ưu tiên tiêu dùng thuốc sinh vật học hoặc tiêu dùng các chế phẩm nấm đối kháng vi khuẩn và đối kháng nấm bệnh để phun phòng trừ. Sử dụng thuốc hóa học trong danh mục được phép sử dụng cho cây ớt và phun theo hướng dẫn tiêu dùng trên bao phân bì của nhà sản xuất.

    Rầy mềm: Sống tập trung ở đọt non và mặt dưới của lá non, chích hút nhựa làm cho đọt non chùng lại, lá quăn queo, úa vàng, cây không tăng trưởng.

    Phòng trừ: sử dụng thuốc có hoạt chất Imidacloprid, Abamectin

    Bệnh thán thư: Bệnh gây thối lá hàng loạt, bệnh nặng vào mùa mưa, bệnh thường xuất hiện khi trái chín, bệnh nặng có thể gây trên trái còn xanh, khiến rụng trái hoặc thu hoạch không tiêu dùng được.

    [​IMG]

    Phòng trừ: dùng thuốc có hoạt chất Chlorothalonil hoặc Metiram Complex 550g/kg + Pyraclostrobin 50g/kg (min 95%) hoặc Ningnanmycin để phun phòng trừ.

    Bệnh đốm trắng lá: Bệnh gây hại cốt yếu trên lá bánh tẻ đến lá già. Vết bệnh khi đầu nhỏ có màu xanh đậm, sau ấy vết bệnh lớn dần có màu trắng, viền màu nâu đậm. Bệnh nặng khiến lá rụng sớm, giảm năng suất, trái nhỏ. Sử dụng thuốc có hoạt chất Ningnanmycin phòng trừ

    Bệnh héo xanh: Bệnh xảy ra tản mạn trên từng cây hoặc từng hàng ngũ cây ở giữa ruộng. Triệu chứng trước tiên trên cây già các lá bên dưới bị héo nhẹ; nhưng ở cây con thì các lá non bị héo trước. Chiều mát hoặc sáng sớm cây tỉnh lại, sau vài ngày cây héo nhanh nhưng lá vẫn xanh.

    Phòng trừ: Đối có bệnh do vi khuẩn thì khi cây mới có triệu chứng nhẹ ta dùng sản phẩm nấm EM (Emina) phun phòng sẽ giảm thiểu bệnh lây lan sang các cây khác. Bệnh nặng thì nhổ tiêu hủy cây bệnh và phun xử lý hốc cây bị bệnh bằng EM hoặc rắc vôi.
     

Chia sẻ trang này